
GS.TS. Nguyễn Quang Thuấn- Chủ tịch và các thành viên hội đồng chụp ảnh cùng chủ nhiệm đề tài
Trong vòng hai năm (2017- 2019), nhóm thực hiện đề tài “Tự truyện và tiểu thuyết Việt Nam sau 1986 nhìn từ Phê bình phân tâm học” đã tập trung nghiên cứu các nội dung chủ yếu sau: 1. Nghiên cứu sự hình thành, phát triển và ảnh hưởng đến các ngành khoa học xã hội của học thuyết Phân tâm học, từ đó chỉ ra cơ sở lý luận của Phê bình phân tâm học; 2. Nghiên cứu, tổng hợp tài liệu, lý giải ba khuynh hướng Phê bình phân tâm học một cách bao quát và logic theo lý thuyết hệ hình; 3. Dùng lý thuyết đã tổng hợp đi vào nghiên cứu trường hợp cụ thể với hai thể loại tiểu thuyết và tự truyện Việt Nam ở giai đoạn sau 1986; 4. Đề xuất một số giải pháp về việc nghiên cứu và ứng dụng các lý thuyết phê bình trong nghiên cứu văn học, đặc biệt là các lý thuyết phê bình phương Tây hiện đại trong bối cảnh văn hóa Việt Nam.
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Kiến nghị và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung đề tài được kết cấu thành 3 chương: Chương 1: Ba khuynh hướng Phê bình phân tâm học; Chương 2: Tự truyện Việt Nam sau 1986 nhìn từ Phê bình phân tâm học; Chương 3: Ám ảnh nghệ thuật trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1986 nhìn từ Phê bình phân tâm học.
Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu, các tác giả đề tài đã rút ra một số kết luận bước đầu như:
1. Việc ứng dụng phân tâm học vào sáng tạo, phê bình văn học nghệ thuật đưa lại nhiều kết quả thú vị. Với cách trình bày ba khuynh hướng phê bình: Phê bình phân tâm học tiểu sử - Phê bình phân tâm học văn bản - Phê bình phân tâm học người đọc đã tạo nên một cái nhìn tổng quan, bao quát về phương pháp phê bình này. Các nghiên cứu ứng dụng cũng cho thấy Phê bình phân tâm học ngày càng thể hiện rõ vai trò vị trí của nó trong sáng tạo cũng như nghiên cứu văn học, nghiên cứu liên ngành, đặc biệt đối với các ngành khoa học xã hội như: văn học; tâm lý học; triết học; văn hóa học; tôn giáo học…
2. Việc ứng dụng các phương pháp phê bình văn học phương Tây nói chung và Phê bình phân tâm học nói riêng vào thực tiễn văn học Việt Nam còn nhiều vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu. Đôi khi có những phương pháp phê bình rất phổ biến ở phương Tây nhưng khi vào thực tiễn văn học Việt Nam lại không thể phát triển hoặc ngược lại. Từ thực tiễn ứng dụng Phê bình phân tâm học cũng thấy rõ điều đó. Ở mỗi giai đoạn, mỗi thời điểm, sự đón nhận của các nhà phê bình và sáng tác cũng khác nhau. Có lẽ đó cũng là điều tất yếu khi xuất hiện mỗi phương pháp/khuynh hướng mới, đặc biệt đó là phương pháp được du nhập. Tuy nhiên từ đó cũng cho thấy, trước tất cả những yếu tố mới nói chung và các phương pháp phê bình văn học nói riêng, các nhà nghiên cứu cần giữ được thái độ trầm tĩnh để đánh giá hiện tượng một cách khách quan và khoa học.
3. Văn học Việt Nam nói chung, tự truyện và tiểu thuyết Việt Nam nói riêng nhìn từ Phê bình phân tâm học đã cho thấy sự phát triển tinh tế theo chiều hướng ngày càng chạm tới bản chất triết học của cuộc sống, phản ánh những tầng bậc sâu nhất của đời sống tâm hồn con người: chiều sâu của tính dục bản thể, chiều cao của đời sống tinh thần tâm linh và chiều rộng của những mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng. Với những ẩn ức cá nhân được phản ánh trong tự truyện và những ám ảnh nghệ thuật được thể hiện trong tiểu thuyết đã chứng tỏ, văn học Việt Nam dần vượt qua những rào cản định kiến và thiết chế xã hội để bắt kịp xu hướng phát triển chung của thế giới. Điều đó cũng thể hiện khát khao cách tân đổi mới của người cầm bút Việt Nam. Ẩn ức cá nhân được thể hiện trong tự truyện phản ánh chiều sâu của cuộc sống hiện đại với những mâu thuẫn phức tạp trong đời sống tâm lý. Sự phát triển chưa tương thích giữa vật chất với đời sống tinh thần trong xã hội Việt Nam hiện nay cho thấy những hệ lụy khó lường, thể hiện qua đời sống tâm lý bức bối của con người. Những ám ảnh nghệ thuật trong tiểu thuyết cũng đã phản ánh rõ điều đó. Nỗi cô đơn, ám ảnh tính dục, sự khủng hoảng đức tin chính là những hệ lụy của một cuộc sống mà đời sống tinh thần và văn hóa nền tảng chưa được quan tâm đúng mức. Qua văn học, các tác giả đã phản ánh kịp thời hiện trạng đó và đây cũng là một tín hiệu/một kênh phát tin cho những nhà quản lý, những người nghiên cứu, những nhà hoạt động xã hội. Hơn bao giờ hết, muốn phát triển đất nước một cách bền vững, chúng ta cần quan tâm nhiều hơn tới vấn đề này.
4. Qua phân tích tiểu thuyết và tự truyện nhìn từ Phê bình phân tâm học, cho thấy một thực tại cần được khẳng định rõ hơn ở xã hội cũng như văn hóa Việt Nam: sự tồn tại của con người cần được nhìn nhận trên nhiều phương diện, trước tiên là sự thỏa mãn của cá nhân, sau đó mới là sự chung sống hài hòa với cộng đồng và môi trường sống. Một khi cá nhân chưa được thỏa mãn những nhu cầu cơ bản thiết yếu thì khó có thể có những định hướng hay cách ứng xử tốt đẹp đối với cộng đồng và môi trường. Trong đời sống xã hội Việt Nam cần khẳng định vai trò và sự tồn tại của tính dục, yêu cầu về sự công bằng và tôn trọng văn hóa khác biệt. Có được điều đó con người mới có động lực củng cố đức tin trong cuộc sống ngày càng tồn tại nhiều phức tạp. Khi những nhu cầu thiết yếu của cuộc sống được đảm bảo và đáp ứng, chắc chắn mỗi người sẽ có cách ứng xử và lựa chọn sống tốt đẹp và hài hòa hơn.
5. Những phân tích dữ liệu trong tự truyện và tiểu thuyết cho thấy rõ vấn đề của đời sống văn hóa Việt Nam. Ngoài sự thể hiện phong phú đời sống văn hóa và sự phát triển ngày càng mạnh hơn của đời sống tinh thần cá nhân, đề tài nhấn mạnh đến những điểm còn hạn chế và mặt trái của đời sống văn hóa Việt Nam. Những mặt trái của đời sống tính dục lệch lạc, những hệ lụy của việc buôn thần bán thánh phần nào được thể hiện trong tiểu thuyết cho thấy cần có nhiều hơn những công trình nghiên cứu/những tác phẩm phản ánh vấn đề này và định hướng cho lớp trẻ lựa chọn một cách sống lành mạnh tốt đẹp hơn. Nhìn vào thực tế xã hội Việt Nam đang cho thấy có rất nhiều vấn đề về văn hóa cần được sự quan tâm của các nhà quản lý, các cơ quan nghiên cứu và những nhà hoạt động xã hội. Việt Nam đang bước vào giai đoạn hội nhập sâu với hầu hết các nước phát triển trên thế giới, sự ảnh hưởng và du nhập văn hóa giữa các nước là điều không tránh khỏi, thậm chí nó sẽ khiến cho văn hóa bản địa trở nên phong phú. Tuy nhiên, những hệ lụy tiêu cực của văn hóa ngoại lai cần được hạn chế và quản lý chặt chẽ hơn. Cần có nhiều hơn các công trình nghiên cứu mang tính chất định hướng, các trung tâm tư vấn học đường, các sáng tác văn nghệ… về chủ đề này, góp phần xây dựng một văn hóa Việt Nam hiện đại, phong phú và lành mạnh.
6. Qua các sáng tác tự truyện và tiểu thuyết nhìn từ Phê bình phân tâm học cho thấy con người Việt Nam hiện đại/hậu hiện đại đang phải đối mặt với nỗi cô đơn khủng khiếp, sự khủng hoảng đức tin và nỗi hoang mang trước sự đảo lộn của các giá trị. Đặc biệt qua tự truyện cho thấy những ẩn ức của con người hiện đại chủ yếu xuất phát từ những mâu thuẫn trong quan hệ và ứng xử của cuộc sống thường ngày và với những người thân thiết nhất. Thiết nghĩ, đã đến lúc cần có nhiều hơn những nghiên cứu tâm lý học hiện đại/Phân tâm học chiều sâu mang tính chất ứng dụng nhằm thiết lập mạng lưới thông tin để con người hiểu hơn về đời sống tâm lý của chính mình. Văn học cũng cần khai thác sâu hơn đời sống tâm lý của con người dựa trên những ứng dụng của tâm lý học hiện đại và ngược lại. Hiểu được những phản ứng phức tạp của đời sống tâm lý sẽ khiến mỗi cá nhân lựa chọn được cách ứng xử cân bằng hơn, giải tỏa tâm lý và những khúc mắc trong các quan hệ đời sống. Điều đó góp phần không nhỏ tới việc định hình một xã hội tốt đẹp và văn minh hơn trong tương lai.
7. Cuối cùng, việc triển khai đề tài mới là bước khởi đầu cho một hướng nghiên cứu ứng dụng trực tiếp mang tính chất thời sự trong quan hệ giữa văn học và đời sống. Văn học không chỉ đơn thuần là văn học, văn học phản ánh xã hội và góp phần định hướng làm cho cuộc sống của con người trở nên tốt đẹp hơn. Vấn đề là làm cách nào để văn học trở nên gần gũi nhất đến với con người trong xã hội khủng hoảng thông tin với sự hoành hành của khoa học công nghệ. Xã hội Việt Nam với văn hóa cộng đồng và tâm lý đám đông đã có không ít những phản ứng tiêu cực về những nghiên cứu, những sáng tạo quá xa cách với đời sống con người hiện tại. Những nghiên cứu mang tính hàn lâm học thuật là rất cần thiết, tuy nhiên trước nhiều vấn đề cấp bách của đời sống xã hội Việt Nam mang tính chất thường nhật, cần có nhiều hơn nữa những nghiên cứu cơ bản và liên hệ trực tiếp, gần gũi đến đời sống xã hội. Nhóm thực hiện đề tài ấp ủ những nghiên cứu mang tính ứng dụng phân tâm học trong đời sống văn hóa xã hội nói chung và Phê bình phân tâm học trong văn học nói riêng, hi vọng có những liên hệ thực tiễn tích cực đến đời sống con người Việt Nam hiện đại.
Đề tài được Hội đồng nghiệm thu đánh giá cao về mặt lý luận và thực tiễn. Dự kiến đề tài sẽ được in thành sách và ra mắt bạn đọc trong thời gian tới.